HỒ SƠ
HOÀNG SA & TRƯỜNG SA

NGUYỄN VĂN CANH

MỤC LỤC

 
 

4. CHÚ GIẢI BẢN ĐỒ

BD1:  Đông Hải. Bản đồ này gọi là Biển Việt Nam với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Phía dưới có ghi chữ Việt Nam Cộng Hòa. Biển Việt Nam nằm trong tổng thể khu vực Đông Nam Á.

BD 8 Một bản đồ cổ sản xuất năm 1594 của Indes, Petrus Plaucius và do J. Visscher phát hành năm 1617. Trên bản đồ có ghi chữ “Costa de Pracel” (tiếng Bồ Đào Nha) hay là “Duyên hải Hoàng Sa.” Duyên hải Hoàng Sa nằm ở phần dưới của bản đồ thuộc Cochinchina (Nam Kỳ).  Còn phần trên, ta thấy có chữ Tunquin (nay viết lại là Tonkin, Bắc kỳ). Tiếp theo là Rouyaume de Champa (Vương quốc Chàm).  Hai bên sông Mecon Fluvius (sông Mekông) là Rouyaume de Camboja / Camboia (Cao Miên). Ở ngoài khơi của Duyên hải Pracel này bao trùm cả một dãy đảo nối liền nhau, kéo dài từ một địa điểm tương đương với Quảng Nam-Đà Nẵng ngày này, qua Champa, xuống tới khu vực biển ngoài khơi Camboia là Pracel (Hoàng Sa).  Toàn bộ khu vực này thuộc về Việt Nam. Và dãy đảo nối nhau ấy về sau gọi là Hoàng Sa và Trường Sa.  Các quần đảo này không bao giờ thuộc về Trung Hoa.

BD 9 - BD 11 do Jodocus Hondius, Bồ Đào Nha, 1606 và 1617 vẽ,  bao gồm toàn vùng Đông Nam Á, dĩ nhiên trong đó có Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Chàm, Miên (Chàm và một phần của Miên nay thuộc về Việt Nam). Bản đồ 11 gồm một dãy đảo ở Biển Đông mà nay được nhận diện là Hoàng Sa và Trường Sa.  Trên Bản đồ của Jodocus vẽ cũng tương tự như của Indes: các dãy đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) nằm dài ngoài khơi của Cochinchina, Champa và Cambodia.

BD15 và 16. Trung Cộng vẽ lại Bản Đồ (Bản Đồ 9 gạch còn gọi là Bản đồ “Biển Nam Trung Hoa.”  Ranh giới Bản Đồ mới này tiến sát vào bờ biển Việt Nam. Tại quận Tư Nghĩa, Quảng Ngãi, đường ranh mới nằm  về phía tây kinh tuyến 110 và bắc  vĩ tuyến 15, và trùng lên cả thềm lục địa cũng như khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, mà luật quốc tế 1982 qui định dành riêng cho các quốc gia hải cận là 200 hải lý.  Với bản đồ mới này, Trung cộng (TC) chiếm hết cả Đông Hải có diện tích là 3.5 triêu cây số vuông.  Về phương diện sinh tồn, chiếm Biển Đông như vậy là ngăn chặn Việt Nam hướng ra biển khơi, để giao tiếp với cộng đồng quốc tế -- một sự liên đới cần thiết và bắt buộc của dân tộc Việt Nam phải có  với các quốc gia khác trên thế giới để sống còn trong hiện tại cũng như trong tương lai.  Như thế bọn bá quyền Bắc Kinh đang thực hiện âm mưu tiến tới cô lập Việt Nam, để rồi đặt  dân tộc Việt dưới sự thống trị chặt chẽ của chúng.  Chúng bóp nghẹt “không gian sinh tồn của dân tộc Việt.”   Đây rõ ràng  là bước khác trong âm mưu sát nhập Việt Nam vào lãnh thổ của Trung Hoa, rồi đồng hóa dân Việt trở thành dân  “Trung Quốc”.  Hồ chí Minh với hai phụ tá thân tín, là Phạm văn Đồng và Trường Chinh, giữ các chức vụ then chốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, và các chức vụ  quốc gia đứng ra làm công việc này.  Cả hệ thống đảng CSVN và guồng máy chính quyền CS  của chúng dùng biện pháp sắt máu để thực hiện âm mưu này của TC, một loại âm mưu mà Mao chủ trương như trong Bạch Thư 1979 mà chính VC đã tố cáo.

Âm mưu của TC trong trường hợp này không khác với những gì đã và đang xảy ra cho dân tộc Tây Tạng mà thế giới đang chứng kiến:

a) ÂM MƯU SÁT NHẬP VIỆT NAM VÀO TRUNG HOA

Vào năm 1958, Phạm văn Đồng với tư cách là Thủ tướng chính phủ của Hồ chí Minh gửi công hàm cho Chu ân Lai công nhận Hoàng Sa và Trường Sa  là của Trung Hoa.  Đây là hành vi tích cực công khai biểu hiện việc sát nhập một phần lãnh thổ VN vào Trung Hoa.

Từ đó đến nay, các lãnh đạo kế tiếp của Đảng CS VN từng bước thi hành các âm mưu này.  Hiệp ước biên giới trên đất liền và vùng vịnh Bắc Việt được ký cùng một thời gian là một bước đầu.  Dù có hiệp ước trên đất liền (đã nhượng một phần đất)  được ký với lý do là an ninh, biên giới ngày nay lại được bỏ ngỏ. Với “hai hành lang kinh tế” mà Trần đức Lương ký với TC vào năm 2005, một từ Côn Minh qua Lào Cai xuống Hà Nội và hành lang kia từ Nam Ninh qua Lạng Sơn xuống Hà Nội, Việt Cộng  giúp cho TC đạt mục tiêu bành trướng về phương diện kinh tế, nhưng cũng còn để dân Tàu được tự do  tràn qua Việt Nam.  Một mặt, hàng hóa từ Vân Nam và Quảng Tây đi xuống Việt Nam (tận Nam Việt Nam)  và để hàng hóa của hai tỉnh này đi Đông Nam Á qua cảng Hải Phòng. Các hành lang này nhằm phục vụ nhu cầu phát triển và nâng cao mức sống cho dân hai tỉnh này của TC, vì chúng  nằm sâu trong lục địa, không có đường ra biển. Mặt khác quan trọng hơn là dân Tàu được tự do lưu thông (không đòi hỏi chiếu khán nhập cảnh).  Dân Tàu tràn qua biên giới sinh sống và lập nghiệp tại Việt Nam. Thật đúng là khẩu hiệu mà TC đưa ra VN như “núi liền núi, sông liền sông” với Trung Hoa đang đươc thi hành. Với “ sụ bỏ ngỏ này”, người ta đang chứng kiến dân Tàu dần dần tràn sang lập nghiệp suốt dọc biên giới, nhất là tại Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng v.v.  Có an ninh và quân đội VC canh giữ để bảo vệ các ‘bí mật’ ấy.  Chính quyền CHXHCNVN cấm chỉ bất cứ ai là người Việt từ phía dưới đi lên “dòm ngó.”  Lúc đầu, sau khi ký hiệp ước, kẻ nào “tò mò” đến quan sát bị bắt, nay thì  họ bị cấm tới gần. Trong trường kỳ, ranh giới của biên giới sẽ cần được xét lại “cho đúng với thực tế”, như Lê công Phụng đã biện hộ.  Và lúc đó biên giới sẽ được ký lại. Lãnh thổ Việt Nam sẽ thu hẹp hơn nữa.

Hơn thế nữa, sự hiện diện và hành động của đông đảo nhiều nhóm thanh niên TC tuần hành  trên đường phố  Sàigòn trong kỳ rước đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008 là thí dụ khác.  Có một nhóm dương cao khẩu hiệu “Thống Nhất Tổ Quốc” với Bản Đồ Trung Hoa và 3 vạch màu vẽ bên dưới tượng trưng cho Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài “khơi”, ngay trước tiền đình Quốc Hội cũ của Việt Nam Cộng Hòa, Sàigòn, hay khoàng 30 thanh niên TC biểu tình với khẩu hiệu “Hoàng Sa và Ttrường Sa là máu thịt của Trung Hoa” trước tòa Đại Sứ TC, nằm trên đường Hoàng Diệu, Hà Nội, có sự bảo vệ của Cảnh Sát sắc phục  của CHXHCHVN đã nói lên được  một phần điều ấy.  Hơn thế nữa, có trường hợp du đãng TC mang súng ống công khai giết người tại Hànội cũng được cảnh sát VC che dấu.

Dù có hiệp ước ấn định ranh giới mới trong vùng vịnh Bắc Việt cũng vậy, ngư phủ Việt bị hải quân TC bắn giết ( tháng 1 năm 2005) hay bị bắt mang về TC giam, rồi bị xét xử vì xâm phạm lãnh hải của TC, dù đang hành nghề trong phạm vi lãnh hải của VN theo biên giới mới (xem bản đồ đính kèm ở dưới). Rất nhiều trường hợp ngư phủ Việt bị bắt và giam tại đảo Hải Nam. Ngược lại, mỗi năm có cả ngàn trường hợp ngư phủ Trung Cộng ngang nhiên tiến sâu vào sát bờ biển Việt Nam để đánh cá. Chưa kể đến việc ngư phủ TC “trấn lột” hay là tịch thu cá của ngư phủ Việt Nam, khi bị ngư phủ TC hỏi giấy phép hành nghề.  Nay, với “vành đai kinh tế”, dân Tàu gồm cả ngư phủ của TC lại có nhiều ưu đãi hơn.

Đôi khi TC còn cho tàu tìm dò dầu hỏa tiến sát vào sâu trong phần đất của VN để nghiên cứu  địa chất. Mới đây, công cuộc tìm dò đó được thực hiện ngay tại ngoài khơi Đà Nẵng và VC vẫn không có một phản ứng tích cực nào để bảo vệ lãnh hải của Việt Nam.

Ngoài ra tại biển Đông, việc TC công khai mang võ lực xâm chiếm Hoàng Sa vào những năm 1956 và 1974 với thái độ im lặng  của Hồ và lãnh đạo VC cũng là bằng chứng cho sự đồng lõa của VC.

Trận chiến tháng 1 năm 1974, là thí dụ đáng kể và quan trọng về vấn đề này. Như ta đều biết khi TC đưa hạm đội của chúng tấn, chiếm một số đảo của khu Nguyệt Thiềm.  Hải quân VNCH hiên ngang và anh dũng chiến đấu để giành lại quyền kiểm soát vùng quần đảo này, để xác nhận và bảo vệ chủ quyền của VN, lãnh đạo VC hoàn toàn im tiếng, một hành vi đồng lõa của tội phạm. Điều quan trọng là ở điểm này: một quan thày của VC lúc đó là Liên Bang Số Viết,  một kẻ bảo trợ và nuôi dưỡng  và tích cực hỗ trợ VC, đã  lên án rất gay gắt về sự xâm lăng ấy để bênh vực VN. Sự lên tiếng của Liên Bang Sô Viết là một hành vi rất quan trọng cho VC trong việc bảo vệ chủ quyền chống lại chủ nghĩa bá quyền Bắc Kinh. Tuy nhiên sự im tiếng này của VC trong trường hợp này có nghĩa là từ chối sự tiếp tay của Liên Bang Sô Viết để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ đất đai của chính mình. Tôi cũng cần lưu ý thêm rằng LBSV vào thời kỳ này vẫn là cột trụ chính làm chỗ dựa cho VC.  Vậy sự im tiếng này có nghĩa là từ chối ủng hộ của LBSV, và lựa chọn con đường đi theo TC, chọn TC làm quan thày cho mình. Như thế, hành vi này phải có một ý nghĩa rất quan trọng liên quan đến mục tiêu trường kỳ là công nhận Biển Đông là của Trung Hoa, y như công hàm của Phạm văn Đồng viết cho Chu ân Lai vào 1958.

Sự việc như vậy ngày nay giúp người ta mới dần dần thấy rõ hơn được hành vi dâng hiến Biển đông của VC cho TC.

Còn trong vùng Trường Sa? TC tăng cường  hoạt động hành sử chủ quyền rất nhiều: nào là tàu tìm dò dầu khí hoạt động tại một nơi nào đó, nào là tập trận bắn đạn thật (thường hàng năm vào tháng 11, như năm 2007 vừa qua); nào là cấm ngư phủ Việt Nam hành nghê mãi tận phía Nam, như  hải quân TC bắn giết ngư phủ và đánh chìm thuyền đánh cá Việt hành nghề cạnh đảo Trường Sa (tháng 7, 07) của quần đảo Trường Sa, cấm công ty dầu hỏa ngoại quốc tìm dầu dù tận mãi phía Nam Côn Sơn (bắc vĩ tuyến 8).  Đó là trường hợp công ty BP của Anh cát Lợi, khiến công ty này phải rút lui khỏi dự án tìm và khai thác dù đã ký khế ước với VC (tháng 5 năm 2008).  TC đe dọa Exxon Mobil vào tháng 7, 2008 vừa qua về việc ký với VC khế ước tìm dò dầu hỏa cũng ở phía Nam Côn Sơn. Vào tháng 6, 08 khi tới Mỹ, Nguyển tấn Dũng đã ký khế ước với công ty này.

Trước đó vào tháng 5 năm 1992, TC cho công ty Crestone của Mỹ có trụ sở ở Denver, Colorado tìm dầu trong một khu vực 25,000 cây số vuông tại Trường  Sa.  Thompson, chủ tịch công ty này còn huênh hoang tuyên bố một cách thách thức rằng TC sẽ mang quân đội bảo vệ công ty của y trong khi hoạt động tại vùng này.

Dựa trên căn bản nào để TC hành động như vậy? Trước hết, Quốc Hội TC ban hành một đạo luật vào tháng 2 năm 1992 tuyên bố rằng tàu quân sự và tàu khoa học nào đến hay đi qua Biển Đông phải có phép của chúng, nếu không sẽ bị đánh chìm.  Đó là căn bản pháp lý dựng lên để “hợp pháp hóa” chủ quyền của chúng.  Chúng loan báo ranh giới bản đồ mới của lãnh hải Trung Hoa trên toàn vùng Biển Đông.  Chúng sát nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Trung Hoa bằng cách lập ra một cơ quan hành chánh là Tam Sa ở tỉnh Hải Nam để quản trị vùng biển.  Như thế, chúng đã coi Biển Đông là tài sản của chúng.

Lý do của sự xâm lăng này mà TC viện dẫn  là công hàm của Phạm văn Đồng gửi cho Chu ân Lai vào năm 1958. Đảng CSVN không chuyển giao lãnh hải như đã thỏa thuận, nên TC dùng võ lực để cưỡng hành lời hứa ấy.

TC chiếm bao nhiêu đảo trên vùng Trường Sa? Cho đến nay không biết một cách chắc chắn. Thoạt đầu vào năm 1988, TC mang quân xuống chiếm 6 đảo, trong đó có khu đá ngầm Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ở vĩ tuyến 9 (ngang với cửa bể Hậu Giang đi ra).  Đến 1995, báo chí quốc tế nói tới con số 10.  Nay, con số đó cao hơn.

TC đã và đang xây căn cứ quân sự tại khu đá ngầm Chữ Thập.  Những hình ảnh vệ tinh đính kèm cho thấy có 5 cơ sở quân sự khác nhau rải rác trên khu đá ngầm này: có bộ chỉ huy quân sự tại một nơi; tại các nơi khác có một văn phòng, một kho tiếp vận, một dàn phóng hỏa tiễn với bãi đáp cho trực thăng đã được xây cất.  Và hình chụp còn cho thấy TC đang xây thêm cơ sở ở một bãi đá khác cho mục tiêu quân sự.  Trên bãi đá ấy, có xe ủi đất và một tàu đang đổ vật liệu xuống nơi này, và công nhân đang làm công tác xây cât.  Tất cả là các kiến trúc kiên cố, xi măng cốt sắt, y như tại tất cả các căn cứ khác trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Chúng được xây từ duới mặt nước đi lên.

Đây là bằng cớ quyết tâm của TC đánh chiếm lãnh hải của Việt Nam làm tài sản của chúng và kiểm soát các quần đảo này cho mục tiêu  kinh tế và quân sự  v.v. trong âm mưu bành trướng về tương lai, dù rất tốn kém.

Phía đối diện với khu Chữ Thập về phương Đông, một căn cứ quân sự  khác được xây trên khu đá ngầm Vành Khăn ( Mischief).  Đây là một ngồi nhà 3 tầng lầu đồ sộ mọc lên khỏi mặt nước, sơn màu vàng trông như một khách sạn khổng lồ, với một khu kiến trúc khác ở bên cạnh.  Báo chí quốc tế nói rằng đây là bộ chỉ huy hải quân của TC với một căn cứ tiếp vận nhỏ và người ta thấy có tầu hải quân TC lui tới nơi này.  Ngoài ra, còn 2 kiến trúc ở 2 nơi khác nữa trong khu vực Vành Khăn. Một trong hai kiến trúc này đang xây.  Với hai căn cứ Chữ Thập (sát kinh tuyến 113) và Vành Khăn (kinh tuyến 115) cũng nằm ở phía Bắc Vĩ tuyến 9, ta  có thể vẽ hình tam giác nối Chữ Thập và Vành Khăn lên căn cứ Tam Á của Hải Nam (căn cứ dành cho tầu ngầm nguyên tử và hàng không mẫu hạm), chúng ta nhìn thấy được lực lượng hải quân TC chuẩn bị vây chặt xung quanh các đảo mà quân đội VC đang trấn đóng. Từ đó, TC bao vây suốt mặt biển từ Móng Cái (với Hiệp ước vùng Vịnh 200) xuống mãi phía Nam, hết vùng Trường Sa, đến tận Mã Lai Á, để rồi bóp chết Việt Nam.  Cũng còn có những căn cứ khác  trong lòng quần đảo Trường Sa đã được xây như trên bãi đá Chigua, nằm trên vỉ tuyến 10, trên bãi Kennan, Song tử Tây và Johnson, và có thể về sau, chúng còn xây thêm căn cứ quân sự ở đâu, chưa biết rõ, cho mục tiêu này để hỗ trợ cho Chữ Thập và Vành Khăn. Tại bãi đá Vành Khăn, người ta biết đã có 3 căn cứ và đã có tin cho biết một căn cứ  thứ 4 đang được xây thêm.

Về phía bắc của Trường Sa, các căn cứ quân sự của TC nằm rải rác trên trong vùng Hoàng Sa, chế ngự Việt Nam từ vĩ tuyến 16 (Thừa Thiên/Quảng Nam/ Đà nẵng) trở xuống.

Ta sẽ không ngạc nhiên về sau này VC sẽ tuyên bố rút lui khỏi 21 đảo mà chúng đang coi giữ, nhất lả  khỏi đảo Trường Sa, một đảo lớn nhất trong vùng quần đảo Trường Sa, ở nơi đó một đơn vị nhỏ quân đội VC đang trú đóng.

Với các bằng cớ này, ta thấy rằng hải quân của TC, đang được bành trướng là phương tiện trực tiếp và chuẩn bị thực hiện việc cưỡng hành chủ quyền lãnh thổ mà Bản đồ mới phác họa từ năm 2006.  Và nếu chúng thành công được âm mưu này, thì toàn thể lãnh thổ Việt Nam từ Ải Nam quan đến mũi Cà Mâu sẽ trở thành một tỉnh hay một quận/huyện của TC không còn bao xa. Vào lúc đó, thì nhiệm vụ của Hồ và đồng bọn được hoàn tất.  Và một bí thư Đảng ủy TC sẽ được chính thức bổ nhiệm từ Bắc Kinh sang Việt Nam để kiểm soát một cách chặt chẽ,  như vai trò của Hồ cẩm Đào làm bí thư Tây Tạng trước đây. Và biện pháp tàn sát và đồng hóa tương tự do cán bộ TC trực tiếp thi hành sẽ xảy ra một cách khốc liệt.  Ngay cả đến những ai muốn trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển sẽ bị tiêu diệt vì lãnh thổ Việt Nam đã bị bao vây chặt và khóa chặt.

VC còn đóng góp cho TC tiến xa hơn nữa: không chỉ thống trịViệt Nam. Như Mao đã nói, Việt Nam sẽ làm bàn đạp để TC tiến xuống Đông Nam Á.

b) ÂM MƯU ĐỒNG HÓA DÂN VIỆT

Dưới chiêu bài kháng chiến chống  thực dân Pháp đàn áp, bóc lột  để dành độc lập, đem lại hạnh phúc, tự do cho dân tộc, Hồ chí Minh và Đảng CSVN lại  âm thầm phục vụ quyền lợi của Đảng CSTH. Với chiêu bài độc lập vẫn còn được nhắc tới, dù không còn thực dân đế quốc hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam, với chiêu bài tự do, hạnh phúc, công bằng, xã hội văn minh (những loại tuyên truyền mà Hoàng minh Chính mấy năm trước đây tuyên bố về quốc kế dân sinh) lãnh đạo VC và truyền thông luôn luôn nhắc tới để đánh lừa hay đánh lạc hướng quần chúng.  Ít ai có thể ngờ rằng chúng lại thực hiện các mưu đồ đồng hóa với Trung Hoa.

Âm mưu này được biểu lộ công khai  qua một tờ truyền đơn của Trường Chinh, Tổng thư ký Đảng Lao Động ( tiền thân Đảng CSVN) phổ biến vào năm 1951, và kế đó, y là Bí thư thứ nhất với đầy quyền uy thực hiện đàn áp dã man đồng bào của mình qua chương trình cải cách ruộng đất.  Về sau, y là Tổng Bí Thư Đảng CSVN.  Trường Chinh kêu gọi Việt Nam được trở thành “chư hầu” Trung Quốc. Lãnh tụ Đảng Cộng sản (CS) này nhấn mạnh rằng “Trung quốc là THẦY- không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế” (xin xem  hình chụp Bản văn được đính kèm ở dưới).

Ta cần phải nhắc danh từ chư hầu là gì theo ý định của người Trung Hoa.  Danh từ chư hầu này được nhà Mãn Thanh dùng khi thương thảo với Patenôtre, đại diện chính phủ  Pháp ký hiệp ước Thiên Tân  năm 1885 với Lý Hông Chương để phân định biên giới Việt Hoa.  Lý hồng Chương thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng ‘Bắc Việt’ là chư hầu của Trung Hoa trong vòng 600 năm qua, với ý nghĩ  rằng đó là đất của Trung Hoa.  Mục đích của Lý hồng Chương tuyên bố như vậy là ‘để cò kè đòi thêm đất’, và khi ký hiệp ước ấy, Trung Hoa quá thiệt thòi, một hiệp ước bất bình đẳng mà ngày nay, TC viện dẫn để hủy bỏ và ký hiệp ước mới như hiệp ước 1999 và 2000 mà ta đã thấy.  Với hiệp ước đó, Pháp và Trung Hoa khi ấn định biên giới mới qua công ước 1887, quân đội Trung Hoa phải rút hết về bên kia biên giới.  Rút quân về phía bắc, TH không còn quyền gì trên “chư hầu’ của mình, nghĩa là mất hết.  Trường Chinh nhắc chữ đến chư hầu theo tinh thần đó.

Để thực hiện âm mưu trở thành chư hầu, với cương vị là Bí Thư Thứ nhất của Đảng Lao Động  Trường Chinh người chỉ đạo chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tàn sát giai cập địa chủ ở nông thôn và đồng thời nhân chiến dịch này  tiêu diệt nền văn hóa dân tộc.  Triệt tiêu tiềm lực vật chất và tinh thần của  dân tộc là điều kiện cần thiết cho công tác này.  Về tinh thần, xóa hết các vết tích gắn liền với dân tộc (nền văn hóa riêng biệt của Việt Nam) để dễ bề “đồng hóa” với nền “văn minh” của Tàu.  Có như thế mới đồng hóa với người Tàu được.  Việc giết chóc thẳng tay tràn lan này đuợc thực hiện từ 1953 đến 1956 theo phương pháp của Trung Cộng là một thí dụ điển hình về tiềm lực vật chất. Ngày nay, người ta mới được biết đích xác rằng cố vấn TC điều khiển trực tiếp việc giêt chóc.  Nhiều tài liệu có nói đế quyền hành của cố vấn TC nhiều đến nỗi Hồ chí Minh ngay trong thời gian đó chỉ dám than phiền sự tàn nhẫn ấy trong chỗ riêng tư.  Công tác tàn phá này (kể cả giết chó) làm tiêu tan tiềm lực đề kháng sự đồng hóa với ngoại bang.  Giáo dục cũ cũng bị triệt để hủy bỏ và thay thế bằng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nghĩa là xây dựng con người mới, với những tập tục mới, phong cách mới v.v. làm nền tảng sinh hoạt cho xã hội mới cũng nằm trong chiều hướng này…

Như thế mới “hội nhập” được vào nền văn hóa Trung Hoa và mới trở thành “công dân Trung Quốc” được như mục tiêu của Trường Chinh và cũng như mơ ước của Mao.

Cũng trong thời gian ‘xây dựng xã hội chủ nghĩa”, sau khi Hồ chiếm được Miền Bắc, để quét sạch các giai cấp khác, nhất là ‘tư sản dân tộc’ ở các thành thị, Đỗ Mười là người  được giao phó công tác tận diệt giai cấp ấy trong chiến dịch gọi là ‘đánh tư sản mại bản’.  Một khi tiềm lực quốc dân không còn, thì chúng hi vọng con đường tiến tới đồng hóa được mở rộng thênh thang.

***

Phạm văn Đồng gửi công hàm cho Chu ân Lai để dâng biển cho TC là bước khởi đầu trong tiến trình thôn tính Việt Nam của TC và giấc mơ “đồng hóa thành dân Trung quốc” của Trường Chinh cùng với các việc làm của Đảng CSVN trong mấy chục năm vừa qua cho đến nay rõ là hành vi của bọn Thái Thú người bản xứ  được bọn bá quyền Bắc kinh dựng lên một cách khoa học (ứng dụng kỹ thuật về lý thuyết ‘võ khí của tổ chức’ của Lê nin) để giúp bọn kẻ thù Bắc phương  này có cơ hội tiến thêm một bước dài trong âm mưu xóa bỏ nước Việt trên bản đồ thế giới.  Và đến nay, trong tháng 12 năm 2007 vừa qua, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh còn cam kết với thư ký của Hồ cẩm Đào rằng “ vì tình hữu nghị đời đời  bền vững với Trung Quốc, lãnh đạo Việt Nam hiến dâng tất cả” cho thấy công tác này được tiếp tục một cách mãnh liệt hơn bao giờ hết.

Với châm ngôn mà bọn bá quyền Bắc Kinh đã đưa ra là 16 chữ vàng từ đầu thập niên 1990, lãnh tụ Đảng CSVN mỗi khi sang “trình diện lãnh tụ ĐCSTH”  luôn nhắc lại để tỏ lòng tôn kính và cam kết với lãnh tụ TC thi hành các đòi hỏi của họ. Bốn chữ đầu trong 16 chữ đó là “hợp tác toàn diện” biểu lộ ý chí của Đảng CSVN hợp nhất với Đảng CSTH để trở thành một và nhà nước Cộng Sản của hai quốc gia là một.  Còn 4 chữ sau cùng là “hướng tới tương lai.”  Tương lai gì? Đó là mục tiêu mà Mao đã nêu ra và Đảng CSTH đang nhắm tới:  Việt Nam và Trung Hoa là một, như chính Bạch Thư của VC đã tố cáo vào năm 1979, trong thời gian mà ĐCSVN đóng vai trò tay sai cho Mạc Tư Khoa chống lại TC, như khẩu hiệu của thanh niên TC dương lên ngay tại Hà Nội và Sàigòn là ‘thống nhất tổ quốc’ và ‘một Trung Hoa, một Ước Mơ’ mà mọi người trông thấy.

Đây là tội ác vô cùng lớn lao của họ Hồ và đồng bọn đối với dân tộc Việt.  Chính chúng đã mở cửa để  dẫn dắt quân xâm lược Bắc Kinh vào nhà, giúp giặc ngoại xâm thôn tính xứ sở của dân tộc, và đưa đến tình trạng ngày nay.  Xương máu của dân tộc đã đổ ra để bảo vệ sự độc lập và vẹn toàn lãnh thổ  qua bao nhiêu thế hệ từ ngày vua Hùng dựng nước, nay trở thành vô ích.  Những gì đã và đang xảy ra là điều báo hiệu rằng dân tộc Việt sẽ có thể gánh chịu cảnh đen tối khủng khiếp trong tương lai.  Hơn 1,000 năm đô hộ, Bắc phương không thành công chinh phục được Việt Nam.  Tuy nhiên chỉ trong vòng hơn ½ thế kỷ, Hồ và đồng bọn đã làm hơn cả điều mà bọn bành trướng Bắc phương mong đợi từ thời Hùng Vương dựng nước.  Nỗ lực ‘hiến dâng tất cả’ mà Nông đức Mạnh cam kết biểu lộ một kết quả phi thường của Đảng CSVN đóng góp cho âm mưu ấy.

BD 16: Ranh Bản đồ mới được nối liền.  Vì không có  các tọa  độ  chính xác về đường ranh ấy sát với bờ biển VN để biết là bao nhiêu hải lý, nên ta dùng thị giác để nhận biết tức khắc khoảng cách ấy.  Thực vậy, nếu ta so sánh khoảng cách đường ranh mới với khoảng cách ở cửa vịnh Bắc Việt giữa Huang Liu  (Hoàng Liễu), Hải Nam và  đảo Cồn Cỏ, ngoài khơi Vĩnh Linh, Đồng Hới của Việt Nam theo bản đồ chia Vịnh năm 2000, thì có một ý niệm rõ.  Khoảng cách ở giữa 2 điểm nằm ở cửa Vịnh là chừng trên 120 hải lý.  Đường phân chia vùng Vịnh nằm ở giữa, như thế có nghĩa là mỗi bên có được khoảng 60 hải lý.  Căn cứ vào đó (dựa trên bản đồ mà TC vẽ)  để so sánh, thì nhìn  thấy rõ khoảng cách từ bờ biển huyện Tư Nghĩa hay Vịnh Cam Ranh trở ra của Bản Đồ “Nam Hải mới”, thì thấy ngay rằng khoảng cách đó ngắn hơn 60 hải lý rất nhiều.

*****

 

TOP

 
 

MỤC LỤC

HỒ SƠ HOÀNG SA & TRƯỜNG SA